Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 9
Tháng 07 : 2.042
Năm 2021 : 8.368
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BÚT KÝ - 30 năm hình thành và phát triển

Bút ký

TRƯỜNG THCS QUANG TRUNG - HÀNH TRÌNH BA MƯƠI NĂM

 

Khi kế hoạch làm cuốn “Kỷ yếu” được hình thành, Ban Giám hiệu nhà trường nhờ tôi viết bài về lịch sử hình thành và phát triển của ngôi trường trong suốt ba mươi năm qua. Vì là người có thâm niên giảng dạy lâu năm nhất ở trường này mà còn đang giảng dạy, tôi khó có thể thoái thác trách nhiệm. Nhưng với tính chất của một bài viết tổng hợp mang nặng những con số và thông tin, tôi e ngại bài viết sẽ rất khó đọc với phần đông nhiều người, nên quyết định chọn một cách viết phù hợp nhất, sao cho vẫn đảm bảo yêu cầu mà cũng không quá khô khan.

 

Tiền thân của ngôi trường có tên Trường Cấp 1-2 B Gia Kiệm (được hình thành vài năm sau ngày 30/4/1975). Sau đó, xã Quang Trung có thêm một trường cấp 1-2 ở Thanh Sơn thì đổi thành Trường Phổ thông cơ sở Quang Trung A (bao gồm cả bậc Tiểu học và Trung học cơ sở). Chỉ những ai sống ở thời gian ấy mới thấy được cái khó khăn phức tạp của nhà trường trong việc quản lý và giáo dục. Trường có rất nhiều địa điểm được chọn làm phòng học. Phân hiệu chính đạt tại Trường Mẫu giáo Quang Trung hiện nay, các phân hiệu còn lại nằm quanh khu vực nhà thờ Ninh Phát và nhà thờ Hưng Bình, thậm chí chỉ một căn nhà của dân cũng hóa thành một lớp học. Thầy hiệu trưởng đầu tiên là thầy Sách, thầy Thảo rồi tiếp sau đó là thầy Trần Anh Dũng (hiện nay thầy đang sống tại quận Gò Vấp - TP. HCM).

 

Năm 1987, đứng trước yêu cầu của Ngành Giáo dục lúc bấy giờ cần tách khối Tiểu học và Trung học cơ sở ra riêng, khi ấy Trường THCS Quang Trung A mới được thành lập, hiệu trưởng là thầy Đinh Tiên Ngọc (Hiện nay thầy đang là hiệu trưởng trường THCS Duy Tân). Tên của trường vẫn còn kèm theo mẫu tự “A” là vì còn có một trường “B” nằm ở ấp Thanh Sơn. Mãi sau này khi trường ấy đổi tên thành Trường THCS Thăng Long, thì trường mới chính thức có tên gọi như hiện nay là Trường THCS Quang Trung.

 

Do cơ sở vật chất là phân hiệu chính dành cho Trường Tiểu học Nguyễn Huệ, phân hiệu Lê Lợi thành trường Tiểu học Lê Lợi ; trường phải dời địa điểm đến khu vực vườn xoài 72, vùng đất mới nằm giáp ranh giữa hai ấp Nguyễn Huệ và Lê Lợi.  Buổi ban đầu, trường chỉ có một dãy 07 phòng học với tường gạch thô sơ, tấm lợp là tôn xi măng, văn phòng chưa có, nhà vệ sinh cũng không nốt. Hội Phụ huynh phải lập tức quây những tấm tôn cũ vào một góc khuất cuối vườn xoài làm khu vực vệ sinh tạm thời cho học sinh. Giờ giải lao, thầy cô giáo đứng dưới tàn cây xoài nghỉ ngơi, trò thì nô giỡn dưới bóng cây râm mát. Sân trường là nền đất đỏ, chỉ có thể rải đá mạt một khoảng sân trước các lớp và lối đi vào trường. Vậy đó, nhưng chỉ một mùa mưa là cuốn trôi tất cả. Năm nào cũng phải rải đá mạt, và thầy trò đã rải không biết bao nhiêu lần như thế. Thật sự phải cám ơn thật nhiều tấm lòng của các vị ân nhân cùng với Công ty khai thác đá Đồng Nai (khu vực Soklu) đã luôn nhiệt thành tặng cho nhà trường nhiều năm những khối đá mạt đồ sộ đó. Đến năm sau, văn phòng được xây tạm bợ nối liền với dãy phòng học, chỉ đủ chỗ cho các cuộc họp hội đồng, họp chuyên môn mà đội ngũ giáo viên bấy giờ cũng chỉ khoảng mười mấy thầy cô. Rồi những năm tiếp theo, số học sinh tăng lên, trường lại được xây thêm một dãy với 4 phòng học, kết nối với dãy cũ thành chữ “L”.

 

Hồi ấy, cuộc sống còn nghèo lắm, cả trường chỉ hai thầy giáo có xe máy. Là chiếc xe cup 78 thôi mà dựng giữa sân trường đã khiến cả thầy trò cùng xúm lại trầm trồ. Hầu hết thầy cô bấy giờ đều đi dạy bằng xe đạp. Tôi nhớ có thầy phải chắt chiu dành dụm cả năm trời mới mua được chiếc xe đạp. Còn học sinh một nửa đi xe đạp và một nửa đi bộ. Và hồi ấy, lưu lượng xe trên đường cũng chưa dày đặc như bây giờ, cho nên cái tuổi thơ hồn nhiên được tung tăng trên đường đến trường lại là điều vui thích. Lúc ban đầu cũng chưa có đồng phục học trò, các em mặc quần áo tùy ý để đến trường, cứ nhìn trang phục có thể phần nào nhận ra hoàn cảnh của từng em. Tôi không còn nhớ chính xác năm học nào trường bắt buộc học sinh phải mặc đồng phục khi đến trường. Tôi chỉ nhớ rằng, khi ấy, sau mỗi bài giảng, tôi đã thuyết phục các em rằng chiếc áo trắng đồng phục sẽ xóa nhòa khoảng cách giàu nghèo giữa các em. Các em sẽ không còn phải mang mặc cảm con nhà nghèo khi mặc chiếc áo trắng đến trường sánh vai cùng các bạn khác, bởi vì ai cũng như ai.

 

Ở vùng quê thuần nông này, có một điều rất đặc biệt. Đấy là khi vào mùa giáp hạt, trời đất vùng Đông Nam Bộ cuối tháng tư chuyển mưa. Người nông dân đã làm đất sẵn sàng và chờ đợi cơn mưa đầu mùa tưới mát. Chỉ ngay sau cơn mưa ấy, sáng hôm sau nhà trường nhận một rừng đơn xin nghỉ học với lý do cực kỳ vinh quang và chính đáng : “Phụ gia đình đi bỏ mầu”. Từ địa phương “bỏ mầu” nghĩa là đi gieo hạt bắp, hạt đậu, … Mau thì vài ba ngày, lai rai cả tuần như vậy mới chấm dứt. Cho dù giáo viên chủ nhiệm có cảnh tỉnh sắp vào mùa thi học kỳ II rồi, không có lý do chính đáng thì không được nghỉ học vì mất kiến thức, nhưng cũng chẳng thể nào ngăn được việc nghỉ học đồng loạt của các em mỗi khi vào mùa giáp hạt. Có buổi dạy, cả thầy và trò loe ngoe hơn mười người. Đành chịu chứ biết sao ! Rồi đến mùa “dế”, bọn học trò mang theo cả không gian miền quê vào lớp học. Trong ngăn bàn đầy những chú dế than, dế lửa. Một âm thanh “réc réc…” cất lên là thành giàn đồng ca, nghe như gọi về tuổi thơ bao la, gọi về chân đê bờ cỏ, gọi về cả tình quê ngan ngát hồn người. Nhiều lúc tiếng gáy của chúng vang quá, thầy giáo phải dùng thước lần lượt gõ vào từng bàn để làm tắt tiếng gáy, cho bài giảng được tiếp tục ngân nga. Lâu lâu quái chiêu chúng chuyển qua tiếng “chịch chịch…”. Thế là cả lớp bò ra cười nghiêng ngả. Ôi chao, còn đâu giờ dạy thần thánh của ông thầy !?

 

Vậy đó, mà cái thời nghèo khó ấy lại cực kỳ chan chứa tình thầy nghĩa bạn. Học trò gặp thầy cô là đồng loạt giở nón mũ trên đầu xuống và cúi chào lễ phép “Em chào thầy, chào cô ạ !”. Các em tháo vát và nhanh nhẹn cách lạ kỳ. Thời ấy làm gì đã biết đến internet, cả xóm mới có một cái tivi trắng đen, điện thoại cả ấp mới vài ba nhà có. Niềm vui của các em tất cả dồn trong giờ ra chơi : rượt bắt, nhảy dây, lò cò,… đủ mọi trò chơi dân gian diễn ra trên sân trường bụi bặm đất và đá mạt. Căn-tin bấy giờ là chuyện xa vời, chỉ có mấy anh bán kẹo kéo, bán kem dạo dừng xe đạp ở góc sân trường giờ ra chơi, ở tay lái xe có gắn cái chuông đồng nhỏ như nắm tay và khua “leng keng” mời gọi. Chỉ nghe cái âm thanh đầy ma thuật ấy vang lên đâu đó là nước miếng đã muốn tứa ra rồi. Hoặc có bà bán ổi, cóc, xoài đựng trong cái rổ. Học trò xúm xít xung quanh. Chỉ một đứa mua một-hai trái ổi nhưng xin người bán cả vụm tay muối ớt. Chúng hí hửng với cái nhúm muối ớt kia. Dùng ngón tay trỏ đã thấm nhẹ vào đầu lưỡi và ấn vào nhúm muối, rồi đưa lại vào miệng. Chậc chậc! Cái vị mặn của muối và cay xé của ớt hiểm mới kích thích vị giác làm sao!

 

Và chúng hái trộm xoài ở sân trường khi đến mùa. Những trái xoài non chớt và chua loét, được chúng cắn hoặc lấy đá ghè vỡ làm hai ba mảnh. Rồi cứ thế nó chui vào miệng và chúng nhai roàm roạp trong tiếng cười và rượt đuổi giành giật nhau. Vườn xoài vì thế mấy năm sau được cưa đi, vì sợ học trò ném xoài vô tình trúng các bạn đang chơi phía xa trong sân. Thầy hiệu trưởng Đinh Tiên Ngọc lúc bấy giờ cùng một số thầy khác mua cây dầu, cây bàng và một vài cây phượng về trồng thay thế. Những cây xanh tỏa bóng mát giữa sân trường hiện nay chính là được trồng vào thời bấy giờ. Tôi vẫn còn nhớ mãi ngày trò chuyện cùng thầy Ngọc:

- Thầy à, trường mình chẳng có cây phượng nào. Khi sắp vào hè, ve thì có kêu đấy nhưng lại kêu trên tàn lá xoài, lá điều. Chẳng có cảm xúc văn chương gì cả.

Thế là thầy hiệu trưởng đi mua vài cây phượng, trồng trước cổng trường một cây, trong sân trường hai-ba cây. Mua về, thầy khoe ngay với tôi :

- Này, nhà trường có cây phượng rồi nhé. Thầy có tâm hồn như vậy thì nhớ dặn học trò đừng phá phách cây cối mới trồng.

Cây phượng ấy bây giờ đã to như cây cổ thụ, mỗi khi chớm hè là đỏ rực cả vòm lá và âm thanh tiếng ve râm ran vang động cả lòng người. Xin cám ơn người đã cho các thế hệ thầy trò sau hưởng trọn vẹn thanh sắc mùa hè.

 

Năm tháng trôi nhanh, cơ sở vật chất dần xuống cấp. Dãy phòng học với tấm lợp là tôn xi-măng trở thành nỗi ám ảnh của thầy trò mỗi khi mưa về. Bàn ghế học sinh kéo dồn về một phía, tiếng giảng bài của thầy hòa lẫn vào tiếng mưa rơi, học trò chẳng biết chúng có nghe lọt tiếng của thầy, khi ánh mắt háo hức ngây ngô nhìn vào giọt chảy từ trên mái ? Thao thức cho một ngôi trường khang trang luôn cháy bỏng tâm trí của bao người. Ngược xuôi tới lui lên kế hoạch, xin phép xây dựng từ thời thầy hiệu trưởng Đinh Tiên Ngọc, nhưng phải đợi cho đến thời cô Nguyễn Thị Tiến làm hiệu trưởng, việc xây dựng theo bản thiết kế quy mô cho ngôi trường mới chính thức được tiến hành.

 

Do khuôn viên của trường khá rộng, nên việc xây mới một dãy phòng học với một trệt hai lầu được tiến hành song song với việc học. Thế hệ học trò ngồi học ở dãy phòng học cũ, mắt nhìn sang phía xa khu đang xây dựng mới, lòng thầm tiếc nuối mình sẽ phải ra trường khi dãy mới kia xây xong.  Rồi dãy mới được xây dựng xong, thầy trò chuyển qua chỗ mới. Toàn bộ dãy cũ khi ấy mới được phá bỏ. Nhìn những mảng tường bê tông cũ kỹ đổ sập xuống, chạnh lòng thầm cám ơn dãy phòng học cũ đã vinh quang hoàn thành nhiệm vụ khi chuyên chở nhiều thế hệ học trò đến bến bờ tri thức. Rồi lòng tôi vui buồn lẫn lộn. Vui vì trường được khang trang hơn nhưng thoáng chút buồn khi nghĩ đến ngày thế hệ học sinh xưa cũ mai sau quay trở lại thăm trường, các em sẽ không còn nhận ra dấu vết nào của thời đã qua mà mình đã vui đùa học tập nơi đây. Chỉ còn là những hàng cây, nhưng chúng cũng đã phát triển to lớn khác xưa mất rồi.

 

Sau khi tháo dỡ dãy phòng học cũ, trường tiếp tục được xây dựng với gói thầu số 2. Và với lần xây dựng này, trường học mới có đủ khu hành chính, khu nhà xe, khu phòng học chức năng và sân trường lát đá toàn bộ, … Tất cả đã tạo ra cảnh quan cho một ngôi trường khang trang và to rộng như hiện nay.

Rồi cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Tiến đến ngày về hưu. Cô là người thầy gắn bó cả một đời đi dạy với duy nhất ngôi trường này. Đời Cô đi qua bao năm tháng gian nan của thời trường học khó nghèo, rồi vất vả tới lui cho ngôi trường được xây dựng. Tuy vậy, Cô đã thực sự cảm nếm niềm hạnh phúc khi chứng kiến ngôi trường mọc lên hoàn thiện như ngày hôm nay rồi mới chính thức về nghỉ hưu.

 

Tiếp theo, thầy Phạm Năng Lực về nhận nhiệm vụ làm Hiệu trưởng, cùng với thầy Đỗ Mạnh Hà là chuyên viên Phòng Giáo dục Đào tạo về làm công tác Hiệu phó chuyên môn. Cả hai thầy đều trẻ tuổi và đầy nhiệt huyết, đã cùng bắt tay vào công việc nâng chất lượng dạy và học cho ngôi trường. Chất lượng giáo dục của ngôi trường được khẳng định, để có một ngày 02/03/2015, trường THCS Quang Trung được Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai công nhận Trường Đạt Chuẩn Quốc Gia, đánh dấu vị thế của ngôi trường so với các trường trong toàn Huyện và trong Tỉnh.

 

Ba mươi năm đã đi qua - ngắn hay dài là tùy vào cảm nhận mỗi người. Tôi chỉ biết rằng, quãng thời gian ấy đủ biến một đứa trẻ thơ thành một người trưởng thành. Tôi nghĩ về những người thầy của ngôi trường này - những người chèo đò đã âm thầm dẫn đưa nhiều thế hệ học sinh đến bến bờ tri thức. Đó là thầy Đinh Tiên Ngọc - hiệu trưởng đầu tiên mang nhiều tâm huyết làm cho ngôi trường nên vóc nên hình buổi ban đầu ; là thầy Vũ Khắc Xướng mà thời gian dạy học vắt qua cả hai chế độ, đã có trên 40 năm dạy học chỉ riêng ở ngôi trường này ; là những thầy cô giáo gắn bó với ngôi trường cả một đời từ lúc ra trường cho đến khi nghỉ hưu như cô Nguyễn Thị Tiến, cô Đặng Thị Lục ; là những thầy cô giáo đến với ngôi trường này và rồi chuyển lên cao hơn với trách vụ mới hoặc chuyển công tác đến ngôi trường khác như thầy Nguyễn Yên Tĩnh, thầy Bùi Văn Hòa, thầy Nguyễn Hữu Quốc, thầy Phạm Thịnh và nhiều thầy cô khác mà trong một lúc tôi không kịp nhớ hết. Tôi nghĩ đến thầy Phan Trần Bá Lộc, giáo viên dạy môn Tiếng Anh cực giỏi, tuy đã định cư bên Hoa Kỳ hơn 10 năm rồi nhưng lúc nào cũng hướng về ngôi trường thân yêu, luôn âm thầm đồng hành với chương trình “Kính vạn hoa” - một sân chơi trí tuệ đầy hào hứng vào mỗi dịp lễ 20/11 hàng năm. Tôi thấy lòng bùi ngùi khi nghĩ về những thầy cô giáo đã từng một thời công tác nơi đây, rồi vĩnh viễn ra đi, để lại bao tiếc thương cho đồng nghiệp và học trò như thầy Trần Quốc Chánh, thầy Đinh Xuân Tuấn và cô Lê Thị Ngọc Bích (Cầu xin hương hồn của quý thầy cô này luôn được an vui nơi miền vĩnh phúc).

 

Tôi nghĩ đến bao nhiêu thế hệ phụ huynh đã chắt chiu từng đồng bạc của đời lao động, chỉ mong con đến trường biết “tôn sư trọng đạo” và chuyên chăm học tập để tươi sáng tương lai. Nuôi được một người con học hành tới nơi tới chốn đã là vất vả lắm rồi ; vậy mà có nhiều bậc cha mẹ đã chấp nhận hy sinh cả đời mình cho cả đàn con sáu-bảy người đều được học hành chu tất. Thế gian này, liệu có loài hoa thiên nhiên nào nói lên được vẻ đẹp của công lao ấy ? Tôi cũng thầm nghĩ tới những tấm lòng tốt của bao thế hệ Ban đại diện cha mẹ học sinh, và cả những Mạnh Thường Quân xưa nay, đã âm thầm giúp đỡ nhà trường trong công việc giáo dục học sinh.

 

Ba mươi năm đi qua, nhiều thế hệ học sinh đã thành đạt, làm rạng danh cho ngôi trường nơi vùng quê nghèo : Là tiến sĩ làm việc cả trong và ngoài nước ; là giảng viên nơi những ngôi trường Đại học danh tiếng nơi thành phố ; là bác sĩ nơi những bệnh viện lớn nhất nhì đất nước ; là linh mục, nữ tu đem cuộc đời mình làm men khơi dậy tình yêu thương và xoa dịu nỗi đau khổ phận người ; là rất nhiều những kỹ sư, kiến trúc sư đang miệt mài góp sức mình nơi mọi miền đất nước ; và cũng có rất nhiều em đã trở thành những thầy cô giáo âm thầm tiếp nối sự nghiệp chèo đò nơi các mái trường trong Huyện và trong Tỉnh. Tôi cũng nhớ đến phần đông những học sinh đã từng học nơi ngôi trường này. Các em lập gia đình và cùng chia cảnh nghèo với bao người dân Việt Nam trong nấc thang chung toàn xã hội. Ngôi trường này vẫn luôn tự hào khi các em biết tự dặn lòng mình sống và giáo dục con cái theo những điều tốt đẹp mà bản thân đã thụ hưởng nơi đây. Con cái của các em chính là những thành quả tươi đẹp điểm tô cho trang sử nhà trường. Đa số học sinh hiện nay chính là con cái của thế hệ học sinh buổi đầu của nhà trường. Các em được gia đình và xã hội dành cho nhiều điều kiện thuận lợi để học tập. Chúng ta cùng vui mừng mà cảm nhận hiện thực sống động của câu tục ngữ “Con hơn cha nhà có phúc”.

 

Ba mươi năm đi qua, không dễ khái quát tất cả những điều tốt đẹp đã được khắc ghi vào dòng thời gian nơi mái trường này. Sẽ có những con người, những sự việc mà người viết bài này đã vô tình bỏ quên. Vâng, chỉ là vô tình bỏ quên thôi - bởi những điều tốt đẹp ấy vẫn luôn được trân trọng. Tôi tin rằng, sự thật sẽ mãi còn đó, và rồi sẽ được nhắc nhớ lại trong tương lai. Xin cảm ơn tất cả những con người đã có thời gian dù ít dù nhiều chọn trường THCS Quang Trung làm điểm hẹn trong đời mình, bởi vì chính cuộc đời của mỗi chúng ta mới góp thành trang sử sống động và vinh quang của ngôi trường dấu yêu.

 

                                                                   Nguyễn Văn Được

                                                               Giáo viên môn Ngữ văn


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip